I. HƯỚNG DẪN HỌC BÀI

1. Tìm hiểu đề và lập dàn ý

Đề 1. Phân tích bài thơ sau của Hồ Chí Minh:

                                  Cảnh khuya

                  Tiếng suối trong như tiếng hát xa,

                  Trắng lông cô thụ, bóng lông hoa.

                  Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ, 

                Chưa ngủ vì lo nồi nước nhà.

                                                                   (1947)

Bài viết tham khảo

   Sau Nhật kí trong tù, những năm lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở chiến khu Việt Bắc là thời kì Hồ Chí Minh làm nhiều thơ hơn cả. Từ những bài thơ kháng chiến của Người toát lên tình cảm thiết tha đối với thiên nhiên đất nước mình, tinh thần trách nhiệm lớn lao của vị lãnh tụ đang chèo chống con thuyền kháng chiến, toát lên phong thái ung dung, lạc quan của một con người luôn vững tin ở tương lai.

                  Tiếng suối trong như tiếng hát xa,

                  Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa.

                  Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ,

                  Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

                                                                  (1947)

   Cảnh khuya được sáng tác vào năm 1947 – năm đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ chỉ huy kháng chiến đóng ở chiến khu Việt Bắc. Như nơi hội tụ của nhiều vẻ đẹp khác nhau, Cảnh khuya thể hiện sinh động quan điểm thẩm mĩ, nhân sinh cao đẹp, phong cách nghệ thuật độc đáo của một chiến sĩ cách mạng vĩ đại đồng thời là một nhà thơ lớn.

                     Tiếng suối trong như tiếng hát xa,

                     Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa.

   Một vẻ đẹp vừa đậm màu sắc dân gian vừa trang nghiêm cổ kính từ những câu chữ bình dị mà hàm súc. Cảnh này có hình vật, có ánh sáng và có âm thanh. Trên nền cảnh núi rừng Việt Bắc vắng vẻ, huyền ảo bởi ánh trăng lồng cổ thụ, tiếng suối thanh trong như điệu nhạc êm, hát mãi không ngừng. Câu thơ của Bác Hồ khiến ta nhớ lại Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi:

                          Côn Sơn có suối nước trong,

                   Ta nghe suối chảy như cung đàn cầm.

   Nguyễn Trãi ví tiếng suối như tiếng đàn, Bác ví tiếng suối với tiếng hát. Nguyễn Trãi tả nước suối trong, còn Bác nghe tiếng suối trong. Người cảm nhận âm thanh chứ không tả cảnh vật, tả màu sắc. Trong đêm khuya thanh vắng giữa chốn núi rừng, dễ nghe tiếng hát trong trẻo của tiếng suối xa. Ngay câu mở đầu, Canh khuya đã đưa người đọc vào thế giới thiên nhiên hiền hòa với cảm giác gắn bó. .

   Câu thứ hai của bài thơ thật giàu giá trị tạo hình, như một bức tranh phong cảnh đẹp, có tầng lớp. Nhìn lên: vầng trăng cao lồng cổ thụ – nét họa có tính trang nghiêm, cổ điển. Nhìn thấp xuống: bóng trăng và bóng cây cổ thụ lại in lồng trong hoa, trong những cây lá ở dưới – nét bút nhỏ, tinh tế. Câu thơ vẽ ra một không gian ba tầng với những mảng màu đen trắng lồng gắn lẫn nhau. Bởi tâm hồn Bác tinh tế, giàu chất thơ, mắt Bác quen nhìn các sự vật, các hiện tượng trong mối quan hệ tự nhiên, biện chứng của chúng nên Người phát hiện ra những vẻ đẹp độc đáo của thiên nhiên. Trong thơ, Bác không hay tả nhiều nhưng cảnh vật hiện lên rất cụ thể, sinh động và phong phú. Đặc biệt, không chỉ riêng trong trường hợp này, có nhiều khi một câu thơ của Người lại bao gồm nhiều sự vật trong mối quan hệ chặt chẽ. Chẳng hạn, quan hệ quấn quýt, lông gắn vào nhau:

                Vân ung trùng sơn, sơn ủng vân.

                (Núi ấp ôm mây, mây ấp núi.)

                                            (Mới ra tù, tập leo núi)

                Từ hà, bạch tuyết bao thanh san.

                (Ráng đào, tuyết trắng ấp non lam)

                                            (Trông Thiên Sơn)

Chẳng hạn, quan hệ tiếp nối theo thể chuyển động:

                Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiện.

                (Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân)

                                                             (Rằm tháng giêng)

                Sao đưa thuyền chạy, thuyền chờ trăng theo.

                                                         (Đi thuyền trên sông Đáy)

   Trở lại với Cảnh khuya. Hai câu đầu đã dẫn người đọc vào một thế giới thiên nhiên huyền ảo, trong trẻo. Truyền thống “thi trung hữu họa”, “thi trung hữu nhạc” của phương Đông, vẻ cô đúc cổ điển của thơ Đường được phát huy qua một tâm hồn nghệ sĩ lớn. Sau hai câu dựng cảnh, tạo âm, câu thứ ba vừa như khắc đậm, gói lại phần trên, vừa như mở chuyển cho phần kết:

                  Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ.

   Cảnh đẹp tựa tranh vẽ thế kia, người làm sao nhắm mắt được! Người thao thức vì cảnh chăng, vì sao người chưa ngủ được? Thật bất ngờ, Cánh khuya kết thúc:

                  Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

   Thì ra cái nguyên nhân chủ yếu khiến người chưa ngữ không phải là “cảnh khuya như vẽ? – câu thứ ba chưa phải chứa đựng mối quan hệ nhân quả chính – mà là “nổi nước nhà”. Câu chuyển này được chia thành hai vế: “Cảnh khuya như vẽ” là lời tổng kết cho phần trên, còn “người chưa ngủ” là bản lề giữa hai phần của bài thơ, là kết quả từ hai phía nguyên nhân. Ba chữ đó nêu lên cái thực tế nhịn được để mở sâu vào cái hiện thực tâm trạng:

                     Chưa ngủ vì lo nồi nước nhà.

   Trong loại thơ tứ tuyệt lâu nay, ít có bài nào lại kết thúc tựa một lời giải thích, cắt nghĩa thẳng, rõ như vậy. Phải chăng đó cũng là cái độc đáo của Bác – cái độc đáo của nghệ thuật bắt nguồn từ sự lớn lao của tâm hồn. Nghệ thuật ấy vô cùng chân thực, giản dị, đi thẳng vào lòng người nên cũng là nghệ thuật cao quí, tinh vi nhất. Nghệ thuật ấy không ép mình trong câu chữ, không lệ thuộc vào thủ pháp mà bộc bạch tự nhiên nỗi lòng mình nên cũng rung động sâu xa. Đang miêu tả cảnh vật thiên nhiên, câu thứ tư kéo về biểu hiện chiều sâu tâm trạng. Bài thơ khép lại một cách bất ngờ nhưng hết sức tự nhiên, trọn vẹn. Bất ngờ nhưng hết sức tự nhiên, trọn vẹn bởi Bác Hồ luôn canh cánh một nỗi lo lớn vì đất nước. Người ít khi có giấc ngủ trọn vẹn khi nước nhà chưa được độc lập, tự do. Trong tù, Người không ngủ được “Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành”. “Đêm không ngư” vì nỗi nhớ. “Nghìn dặm bâng khuâng hồn nước cữ.”.. Và lúc này, khi cả non sông đang bị kẻ thù trở lại giày xéo và cuộc chiến đấu mới bước vào những ngày đầu tiên gian khổ, vị Tư lệnh Hồ Chí Minh cũng hiếm những đêm nghỉ ngơi thanh thản. Hải Như từng viết “Cả cuộc đời Bác ngu có yên đâu”. Chúng ta càng hiểu nỗi không yên này khi bài Cảnh khuya được sáng tác vào năm 1947 – trong thời kì đầu vận nước đứng trước cơn thử thách gian nan lớn, Giữa rừng trăng khuya vì lo việc nước mà người bắt gặp vẻ đẹp mĩ lệ của thiên nhiên đất nước; ngược lại nỗi lo việc nước nhà không hề ngăn cản sự thưởng thức cảnh đẹp, lăng nghe tiếng rừng, tiếng suối của Người. Cảnh khuya đã nêu lên một mẫu mực về sự thống nhất cao độ, tự nhiên giữa lòng yêu thiên nhiên với tình yêu nước của người chiến sĩ – nghệ sĩ Hồ Chí Minh.

   Với Bác, yêu thiên nhiên cũng là yêu nước vì vầng trăng sáng, cây cỏ ấy, núi sông này là một phần yêu quý của thiên nhiên đất nước. Tình yêu nước bao la, ý chí chiến đấu vì nhân dân, Tổ quốc khiến Người nhìn thiên nhiên đất nước thêm giàu thêm đẹp và ngược lại, lòng yêu mến cảnh vật thiên nhiên đất nước là một động cơ thúc đấy Người thêm lo “nỗi nước nhà”. Từ đó, dẫn đến sự thống nhất một cách tất yếu giữa tình cảm đối với thiên nhiên và trách nhiệm lịch sử – xã hội, một vẻ đẹp độc đáo của con người cách mạng ở thời đại mới.

   Bài thơ tên đề Canh khuya nhưng lại nặng “nỗi nước nhà”, rất đậm tình. Chính cái tình đó tăng thêm không khí thâm trầm, man mác của cảnh và làm nên sức ngân vang dẫu lời thơ đã tận. Chúng ta càng hiểu vì sao ngay lúc mở đầu Canh khuya không họa vật, vẽ cảnh mà tạo âm – “Tiếng suối trong như tiếng hát xa” ngân lên như khúc dạo đâu. Trong đêm khuya thanh văng chôn núi rừng Việt Bắc, cái dễ khiến “người chưa ngủ” cảm nhận và rung động trước tiên là tiếng suối – âm thanh duy nhất trong không gian huyền ảo. Tiếng gọi của “nồi nước nhà” luôn thao thức ở lòng người đã bắt gặp tiếng suối trong như tiếng hát của rừng núi thiên nhiên và hai âm thanh đó hòa hợp, ngân dài, vang sâu suốt cả bài thơ.

   Rõ ràng là nhân sinh quan cách mạng đã làm đẹp tình yêu của người chiến sĩ. Cảnh khuya đâu chỉ có chuyện cảnh mà chính là chuyện người. Bài thơ giúp ta khẳng định thêm | đặc điểm thiên nhiên trong thơ Hồ Chí Minh. Thiên nhiên ấy là biểu hiện đặc biệt của một tầm nhìn, một quan niệm triết lí, nhân sinh tiến bộ và những cảm xúc thẩm mĩ cao đẹp.

                (Theo Lê Quang Hưng, Đến với tác phẩm văn chương,
                                NXB Đại học Quốc gia Hà Nội – 2007)

Đề 2. Phân tích đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của Tố Hữu:

                        Những đường Việt Bắc của ta
                       
                        Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.

   Bài viết tham khảo 

   Tố Hữu là nhà thơ của lí tưởng cộng sản, lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Mỗi thời kì lịch sử đi qua, Tố Hữu đều để lại dấu ấn riêng mang đậm hồn thơ trữ tình chính trị: Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa,... Trong đó, Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu nói riêng và thơ ca chống Pháp nói chung. Bài thơ được làm vào tháng 10 – 1954, khi Trung ương Đảng và Chính phủ cùng cán bộ chiến sĩ rời chiên khu để về tiếp quản thủ đô Hà Nội. Lấy cảm hứng từ không khí của buổi chia tay lịch sử ấy, Tố Hữu đã xúc động viết nên bài thơ này. Đoạn thơ ta sắp phân tích sau đây là đoạn thơ để lại dấu ấn về nội dung và giá trị nghệ thuật đặc sắc nhất trong bài thơ Việt Bắc:

                        Những đường Việt Bắc của ta
                       
                        Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.

   Nếu như ở những đoạn thơ trước, Tố Hữu mang đến cho người đọc vẻ đẹp của tình nghĩa quân dân qua những kỉ niệm ngọt ngào gắn bó. Thì ở đoạn thơ này, nhà thơ đã đột ngột chuyến dòng. Không còn những dòng thơ ngọt ngào như ca dao nữa mà đoạn thơ này đã mang âm hưởng của cảm hứng sử thi hùng tráng. Đó là những hình ảnh gợi ra ấn tượng chung về sức mạnh của dân tộc trong kháng chiến, là hình ảnh của những đoàn quân ra trận vô tận điệp trùng, là hình ảnh hùng vĩ của cuộc chiến tranh nhân dân từ hình ảnh những đoàn dân công, đến hình ảnh những đoàn xe cơ giới trên đường ra trận làm bừng sáng những đêm kháng chiến. Đó là khí thế của “40 thế kỉ cùng ra trận” ngời sáng trong trận chiến sinh tử với kẻ thù. Trước hết đó là ấn tượng chung về sức mạnh của dân tộc ta trong kháng chiến với “Những đường Việt Bắc của ta… đất rung”. Đọc câu thơ ta đã thấy ngay ân hưởng hết sức hùng tráng của bài ca kháng chiến vang lên từ những điệp từ “đêm đêm”, từ láy “rầm rập”. Và từ gợi tả hình ảnh “đất rung”. Những từ ấy đều là những từ được cấu tạo bởi phụ âm nổ (đ – “đêm đêm”), những phụ âm rung (r- “rầm rập”). Ấn tượng ở những câu thơ này còn được nổi bật lên bởi ý nghĩa khái quát, ý nghĩa biểu trưng của hình ảnh con đường. Khi tác giả nói “những đường Việt Bắc” đó là những con đường vừa rất thực như tác giả từng viết “đường ta rộng thênh thang tám thước”. Đường Bắc Sơn, Đình Cả, Thái Nguyên, đường qua Tây Bắc, đường lên Điện Biên… những con đường mở ra cùng với chiến thắng của quân dân ta, nhưng cũng là con đường đầy ý nghĩa tượng trưng khái quát cả một quá trình đi lên của kháng chiến và cách mạng. Con đường đang dẫn tới thành công. Hình ảnh một đất nước trong kháng chiến, của Việt Bắc trong tháng năm hào hùng bỗng trở nên rực sáng và hùng vĩ bởi hình ảnh những đoàn quân ra trận:

                     Quân đi điệp điệp trùng trùng

             Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan.

   Còn nhớ ngày 22 – 12 – 1944, tại cây đa Tân Trào, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã làm lễ xuất quân cho đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân (Tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam). Khi ấy, đội quân mới chỉ có 34 người. Vậy mà mấy năm sau từ 34 người với trang bị vũ khí thô sơ, quân đội ta đã phát triển thành tinh nhuệ với “điệp điệp trùng trùng”. Điệp ngữ “điệp điệp trùng trùng” gợi lên sự đông đảo, lớn mạnh, đoàn quân như trải dài vô tận, vươn ra khắp núi rừng Việt Bắc. Sự tinh nhuệ ấy là sức mạnh vô địch chứng tỏ sự trưởng thành của quân dân ta, đồng thời cũng cho thấy, quân đội ta đã thực sự lớn mạnh cả về chất và lượng, có thể đương đầu với mọi kẻ thù to lớn. Hình ảnh đoàn quân ra trận đã được cảm hứng lãng mạn tạo nên tầm vóc vũ trụ bởi hình ảnh ánh sao đầu súng, một hình ảnh rất thực nhưng đã vụt lớn lên bởi cảm hứng lãng mạn. Ba hình ảnh: súng – sao – mũ như đi cùng nhau. Khẩu súng tượng trưng cho ý chí đánh giặc của người lính, chiếc mũ là cách nói hoán dụ để nói về người lính nhưng đồng thời lại để chỉ tầm vóc vươn tới sao trời của người lính. Ánh sao là hình ảnh chỉ ngôi sao trên mũ người chiến sĩ. Sao cũng là biểu tượng của Tổ quốc. Người lính ra chiến trận, mang theo cả Tổ quốc bên mình:

                   Anh đi bộ đội sao trên mũ

                   Mãi mãi là sao sáng dẫn đường

                   Em sẽ là hoa trên đỉnh núi 

                   Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm.

                                                                    (Vũ Cao)

   Nhà thơ đã dùng thước đo vũ trụ để đo tầm vóc của người chiến sĩ cách Những người chiến sĩ đang hành quân ra trận. Đó là âm hưởng của những chữ “đi”, “điệp điệp”, “trùng trùng”. Từ hình ảnh ấy Tố Hữu như dựng lên trước mắt người đọc vẻ đẹp của những đoàn binh ra trận mà như một dải ngân hà lấp lánh đang cuồn cuộn đồ về phía tiền phương. Trong bức tranh tổng hợp về sức mạnh của dân tộc ta trong kháng chiến, Tố Hữu còn dùng một màu sáng, một màu sáng chói loà để làm bừng lên vẻ đẹp hùng vĩ của cuộc chiến tranh nhân dân, dù chỉ qua một chi tiết về đoàn dân công. Đó là hình ảnh:

                            Dân công đỏ đuốc từng đoàn

               Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay.

   Câu thơ không hề có một chữ “điệp điệp”, “trùng trùng” nào mà ta vẫn thấy sự điệp trùng ấy. Đó là cảm giác có được bởi cấu trúc hết sức độc đáo của câu thơ. Tác giả không viết “từng đoàn dân công đỏ đuốc”, mà mở đầu câu thơ là hai chữ “dân công”, cuối câu thơ là hai chữ “từng đoàn”. Cấu trúc ấy gợi ra sự điệp trùng vô tận của những đoàn dân công. Ở đây là hình ảnh “bước chân nát đá muôn tàn lưu bay”. Hình tượng bàn chân là hình tượng biểu trưng cho sức mạnh của con người gắn liền với những chặng đường đấu tranh cách mạng. Ở đây, hình ảnh bàn chân đã được thủ pháp phóng đại, cường điệu làm bừng sáng lên ánh sáng lãng mạn nhưng đầy khí thế oai hùng lẫm liệt tựa như “tam quân tì hộ khí thôn ngu” (thế mạnh ba quân như hổ báo nuốt trôi trâu). Sức mạnh bàn chân ấy cũng đã từng được Tố Hữu nhắc đến trong bài Ta đi tới:

                    Những bàn chân từ than bụi, lây bùn

                    Đã bước dưới mặt trời cách mạng.

                    Những bàn chân của Hóc Môn, Ba Tơ, Cao Lạng

                    Lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu

                    Những bàn chân đã vùng dậy đạp đầu

                    Lũ chia đất xuống bùn đen vạn kiếp!

   Với hai dòng thơ tiếp theo, bức tranh kháng chiến hiện lên với những hình ảnh mới. Đó là hình ảnh “Nghìn đến thăm thẳm sương dày”, hình ảnh của những đoàn xe cơ giới ra trận. Sự hùng vĩ của nó được đo bằng thước đo của nghìn đêm lịch sử, “Nghìn đến thăm thăm sương dày” đã bị xua đi bởi “Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”. Sự tương phản giữa quá khứ “thăm thẳm sương dày” với ánh sáng của “ngày mai lên” là sự tương phản làm nổi bật giá trị của nghìn đêm kháng chiến. Chữ “bật sáng” nhằm nhấn mạnh cái khoảnh khắc chói loà, kháng chiến chuyển sang thời kì mới, thời kì chiến. thắng. Bốn câu thơ cuối khép lại bằng niềm vui chiến thắng:

                         Tin vui chiến thắng trăm miền

                  Hòa bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về

                         Vui từ Đồng Tháp, An Khê.

                  Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng. 

   Tố Hữu sử dụng bốn câu thơ để miêu tả không khí chiến thắng đang dồn dập trên khắp đất nước. Cũng là một thủ pháp liệt kê nhưng những địa danh ở đây không gắn với chữ “nhớ” như ở những dòng thơ mở đầu của đoạn mà gắn với những chữ “vui” để thấy tin vui đang như bay lên từ khắp trăm miền. Kết cấu của bốn câu thơ này cũng là một kết cấu khá chặt chẽ. Câu một là cảm xúc bao quát: “Tin vui chiến thắng trăm miền”, còn ở câu sau nhằm thể hiện sự lan toả của những tin vui khắp trăm miền ấy. Vì thế, những địa danh liên tiếp xuất hiện gắn liền với các tin vui chiến thắng. Sự liệt kê các địa danh chiến thắng cũng chứa đựng những giá trị tư tưởng – nghệ thuật. Đó là sự sắp xếp nhằm làm nổi bật tin vui như bay đi trong một tốc độ “siêu tốc”. Vừa mới đó là Hòa Bình – Tây Bắc – Điện Biên, tiếp sau đã là Đồng Tháp (Nam Bộ), An Khê (Tây Nguyên), lại đã là Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.

   Đoạn thơ đã rất thành công khi thể hiện niềm vui chiến thắng của quân và dân ta trong những ngày kháng chiến chống thực dân Pháp gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng. Thành công ấy là nhờ vào một số thủ pháp nghệ thuật: thể thơ lục bát truyền thống: ngôn ngữ sử thi hào hùng, hình ảnh thơ giàu sức sống, nhịp thơ dồn dập, nhiều điệp từ, điệp ngữ… tất cả đã tạo nên một đoạn thơ hùng tráng về những ngày sục sôi đánh Pháp. Hơn nửa thế kỉ trôi qua mà sức sống mãnh liệt của thời đại ấy vẫn còn rực lửa trong trái tim mỗi con người Việt Nam.

(Bài viết của Thầy Phan Danh Hiếu, Biên Hòa, Đồng Nai)

2. Từ các đề bài và kết quả thảo luận, học sinh cho biết đối tượng, nội dung của bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ. 

Học sinh tham khảo phần Ghi nhớ, SGK trang 86.

II. LUYỆN TẬP

Phân tích đoạn thơ sau trong bài Tràng giang của Huy Cận:

                  Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

                  Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.

                  Lòng quê dọn dợn với con nước,

                  Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

   Bài viết tham khảo

   Nhà thơ Huy Cận có nhiều bài thơ hay miêu tả về cảnh thiên nhiên, tình yêu quê hương đất nước, nỗi nhớ nhà trong đó nổi bật nhất là bài thơ Tràng giang nó là bài thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới. Trong bài Tràng giang khổ thơ cuối đã thể hiện tâm trạng buồn, cô đơn, bơ vơ của tác giả khi nhớ nhà:

                  Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

                  Chim nghiêng cánh nho: bóng chiều sa,

                  Lòng quê dọn dợn vời non nước,

                  Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

   Huy Cận lại khéo vẽ nét đẹp cổ điển và hiện đại cho bầu trời trên cao:

                  Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

                  Chim nghiêng cánh nho: bóng chiều sa.

   Tác giả đã dùng từ láy “lớp lớp” để miêu tả hình ảnh của những đám mây chiều, nó từng lớp từng lớp đã làm bạc đi cả bầu trời, câu thơ: “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc” nhà thơ đã dùng biện pháp so sánh ẩn dụ và bút pháp chấm phá với “mây cao đùn núi bạc” thành “lớp lớp” đã khiến người đọc tưởng tượng ra những núi mây trắng được ánh nắng chiếu vào như dát bạc. Hình ảnh mang nét đẹp cổ điển thật trữ tình và lại càng thi vị hơn khi nó được khơi nguồn cảm hứng từ một tứ thơ Đường cổ của Đỗ Phủ: “Mặt đất máy đùn cưa đi xa” để tô thêm vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ tác giả đã so sánh màu của những đám mây với “bạc” một cách so sánh khá khéo léo. Huy Cận đã vận dụng rất tài tình động từ “đùn”, khiến máy như chuyển động, có nội lực từ bên trong, từng lớp từng lớp mây cứ đùn ra mãi thành núi bạc. Đây cũng là một nét thơ đầy chất hiện đại, bởi nó đã vận dụng sáng tạo từ thơ cổ điển quen thuộc. Và nét hiện đại càng bộc lộ rõ hơn qua dấu hai chim thần tình trong câu thơ sau. Dấu hai chấm này gợi mối quan hệ giữa chim và bóng chiều. Trời mây thì bao la, rộng lớn như vậy còn chim thì chao nghiêng, nhưng đây không phải là chao nghiêng một cách bình thường mà “Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa”. Chim nghiêng cánh nhỏ kéo bóng chiều, cùng sa xuống mặt tràng giang, hay chính bóng chiều sa, đè nặng lên cánh chim nhỏ làm nghiêng lệch cả đi. Câu thơ tả không gian nhưng gợi được thời gian bởi nó sử dụng cánh chim và “bóng chiều”, vốn là những hình tượng thẩm mĩ để tả hoàng hôn trong thơ ca cổ điển. Có lẽ những đàn chim đang vội vã bay về tổ ấm của mình để tránh được cái “bóng chiều sa”. Dường như những cánh chim đó đang bị đè nặng của cảnh xế chiều buông xuống và điều đặc biệt hơn là cánh chim không bình thường mà chim nghiêng bởi đôi cánh nhỏ, bằng đôi cánh nhỏ của mình chim bay về tổ ấm của mình để tránh được một không gian rộng lớn buổi chiều tà, Chim bay đi đâu cho “thoát khỏi cái bóng chiều tà đang đè nặng xuống mình? Nhưng giữa khung cảnh cô điên đó, người đọc lại bắt gặp nét tâm trạng hiện đại:

               Lòng quê dợn dọn với con nước,

               Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

   “Lòng quê” ở đây muốn nói lên nỗi nhớ quê hương của nhà thơ, sự hướng tâm chứ không chỉ đơn thuần là tấm lòng chất phác, quê mùa. Từ “dọn dợn” cho ta cảm nhận sóng biển đang ở bên ta, sóng biển cũng biết nhớ thương hay tác giả đang nhớ thương vậy? “Dợn dợn” là một từ láy nguyên sáng tạo của Huy Cận, chưa từng thấy trước đó. Từ láy này hô ứng cùng cụm từ “vời con nước” cho thấy một nỗi niềm bâng khuâng, cô đơn của “lòng quê”. Hai từ “dợn dợn” còn gợi cho ta thấy được sự lên xuống uốn lượn của sóng biển hay nỗi nhớ trào dâng của nhà thơ khi đứng trước cảnh hoang một buổi chiều tà. Và nỗi nhớ ấy không chỉ một lần mà là liên tục, nhiều lần nhưng nỗi nhớ ấy mới chỉ là “dợn dợn” mà chưa phải là cuồng nhiệt. Trong Truyện Kiều cũng tả nỗi nhớ nhà nhưng lại chưa biết đâu là nhà khi:

                 Bốn phương này trắng một màu 

                 Trông vời cố quốc biết đâu là nhà. 

   Kiều nhớ quê nhà nhưng bốn phương đều là một màu làm sao nhận ra được đâu là nhà, trong cuộc đời nổi trội của nàng như vậy thì sẽ biết về đầu và đâu sẽ là nhà? Lòng nhớ quê hương được gợi lên bởi từ “mây trắng”. Trong khổ thơ của Huy Cận thì lại nhấn mạnh ở từ “con nước”. Tác giả kết thúc bài thơ một cách nhẹ nhàng nhưng sâu lắng:

                       Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Nhà thơ đã mượn từ “khói” trong thơ của nhà thơ Thôi Hiệu để nói lên nỗi lòng của mình, nếu như nhà thơ Thôi Hiệu nói “Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai” thì nhà thơ Huy Cận không có “khói” nhưng vẫn nhớ về nhà hay cái nôi mà mình đã nuôi ta trưởng thành. Nhà thơ Thôi Hiệu mới nói lên nỗi nhớ nhà một cách chung nhưng còn nhà thơ Huy Cận đã khẳng định “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” câu thơ rất mạnh mẽ dứt khoát. Xưa kia, nhà thơ Thôi Hiệu buồn vì cõi tiên mù mịt, quê nhà cách xa, khói sóng trên sông gợi cho tác giả thấy mờ mịt mà sầu. Nhưng nay Huy Cận buồn trước cảnh không gian hoang vắng, sóng “gợn tràng giang” khiến ông nhớ tới quê hương như một nguồn ấm áp và là tổ ấm hạnh phúc đối với ông. Thôi Hiệu tìm giấc mơ tiên chỉ thấy hư vô, đó là lòng khát khao cõi quê hương thực tại, còn Huy Cận một mình đối diện với khung cảnh vô tình, hoang vắng lòng ông lại muốn được trở về với quê 1. hương mang nặng tình thương và mang lại sự ấm áp cho tác giả đó cũng là nỗi khát vọng của ông. Bằng những biện pháp so sánh và sự tài tình miêu tả của nhà thơ đã thế hiện rõ nỗi buồn, nỗi nhớ nhung quê hương của tác giả. Nỗi niềm nhớ quê hương khi đang đứng giữa quê hương, nhưng quê hương đã không còn. Đây là nét tâm trạng chung của nhà thơ mới lúc bấy giờ, một nỗi lòng đau xót trước cảnh mất nước. 

   Khổ thơ mang đậm nét buồn, buồn ở đây không phải là buồn do cảnh vật tàn phai, không gian chật hẹp, tù túng hay chết chóc mà buồn vì cái đẹp thiểu tình người, từ một sự mất mát các mối liên hệ có tính khái quát gây nên. Một cái buồn đậm màu triết lí, nỗi buồn đó cũng phản ánh sự thay đổi đời sống xã hội, khổ thơ nói lên tâm trạng chung của những ai phải xa quê hương yêu dấu của mình.

                                                                                     (Sưu tầm)

Tuần 6: Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
Đánh giá bài viết